Chữ Nhân ?

Chữ Nhân trong Nho giáo của Khổng Tử

Nếu xét về những khác biệt giữa con người đương đại với con người thời sơ khai. Bỏ qua cái dáng vẻ thanh tú, mỹ lệ hơn về hình hài sau khi trải qua những tiến trình văn minh của xã hội. Có lẽ muôn đời vẫn còn nguyên câu hỏi: Con người, thực chất là ai ?

– Trần Tử Ngang (651-702), thi nhân đời Đường đã từng ngậm ngùi:

“Nhìn phía trước người xưa vắng vẻ,
Ngoảnh về sau quạnh quẽ người sau.
Ngẫm hay trời đất dài lâu,
Mình ta rơi giọt lệ sầu chứa chan.”

– Hoặc như Nguyễn Gia Thiều (1741-1798), cũng ngao ngán, chua xót mà cảm thán rằng:

“Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy,
Kiếp phù sinh trông thấy mà đau.
Trăm năm còn có gì đâu,
Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì.”

Nếu như vậy thì hoá ra kiếp người vô nghĩa lắm sao ?

Theo Khổng Tử:
Con người, cơ bản là loài vật thượng đẳng biết tư duy, mà Đông Phương mệnh danh là “linh ư vạn vật”, đã trải qua các quá trình tiến hoá để dần dần trở thành con người tinh khôn (homo sapiens) vào thời kỳ Đệ Tứ Nguyên Đại. Vì vậy trong cuộc sống cộng sinh, con người đã biết thích ứng với nhau, biết chế ngự bản năng man rợ của loài cầm thú để trở nên văn minh và có tính xã hội hơn.

Vậy thì “cuộc tiến hoá” ấy có định hướng chăng ?

– 2500 năm trước – Khổng Tử, người được mệnh danh là Vạn Thế Sư Biểu 萬世師表 (khuôn mẫu cho vạn đời sau bắt chước), đã từng quan niệm: Trong xã hội, có những hạng người sống thuần bằng bản năng như loài cầm thú: Đó là những người phàm phu tục tử, là những kẻ hạ cấp xét về phương tiện đạo đức phẩm cách. Những kẻ này, theo Nho giáo, đều gọi là tiểu nhân 小人 dù rằng kẻ ấy có chiếm giữ địa vị cao và giàu có trong xã hội chăng nữa.
Nếu tiểu nhân là người thô lậu, sống thuần vào bản năng xấu xa, thì ngược lại, quân tử 君子 là người tiến hóa, biết khắc phục bản thân, hiểu mệnh trời, hiểu đạo lý và biết định mệnh con người là gì.

Những đặc tính của kẻ tiểu nhân thì tương phản rõ rệt với những đặc tính của người quân tử. Nhưng tiểu nhân và quân tử không phải là hai mặt đối lập nhau, không phải là hai cực đoan, mà quân tử là giai đoạn tiến hóa của tiểu nhân. Không có tiểu nhân, thì không có quân tử.
Sở dĩ quân tử và tiểu nhân có sự tương đồng ấy là do họ đều có cái “Thiên Tính” trong người. Cái tính ấy trọn sáng trọn lành, nó hướng đạo con ngưòi làm điều thiện, điều phải. Con người vì bị vật dục che khuất lương tri nên mới có phân biệt kẻ ác người thiện. Nho gia từng nói “Người ta ai cũng giống nhau vì có bản tính lành, nhưng do tập nhiễm thói xấu nên họ mới khác xa nhau” – Cũng chính phát sinh từ ý tính nầy mà tự ngàn xưa đã có câu “Nhân chi sơ, tính bổn thiện” (sẽ mạn đàm sau). Còn Mạnh Tử thì bảo “Cái chỗ con người khác với cầm thú thật không xa mấy. Kẻ tiểu nhân thì bỏ mất sự sai biệt ấy, còn người quân tử thì biết bảo tồn nó”.

Rõ ràng, giữa con người và cầm thú phải có sự phân định khu biệt:
– Tiểu nhân đã bỏ qua, không để ý đến sự sai biệt ấy, cho nên vẫn còn đồng hóa mình với cầm thú, và cư xử theo bản năng thấp hèn. Họ thường chú trọng vào “Lợi”, kiêu căng hợm hĩnh, chỉ lo trau chuốt bề ngoài, trọng hư danh, thích a dua bè đảng nên luôn tạo mối bất hoà khi chung đụng với mọi người. Tiểu nhân thường dùng lời lẽ ngọt ngào nhưng xảo trá để mong dối gạt người. Họ sợ người khác phê phán nên phải tạo cái vỏ bọc tốt đẹp hầu che đậy lòng dạ xấu xa, chỉ mong gieo điều ác cho người khác
– Người quân tử thì biết bảo tồn cũng như nhận thức rõ sự sai biệt ấy, nên đã vượt lên trên và khắc phục bản năng cầm thú. Họ chỉ chú trọng vào “Nghĩa”, hiểu giá trị đích thực của mình (dù ai không biết, không hiểu mình cũng không sao) nên chỉ tự trông cậy vào chính bản thân. Người quân tử lòng dạ thư thái, không kiêu mạn, luôn giữ hoà khí trong cộng đồng, thích làm điều tốt đẹp cho người chung quanh.
Chẳng hạn, trong bản năng ăn uống: kẻ tiểu nhân vì đói và khát có thể làm hại tâm (đói ăn vụng, túng làm càn), nhưng người quân tử thà đói khát chứ không làm điều sai quấy.

Vậy “Nhân” trong học thuyết của Khổng Tử có ý nghĩa như thế nào ? Đã giữ được vai trò gì trong đời sống xã hội trước và sau thời kỳ phong kiến ở Đông Phương ?

Khái niệm “Nhân” trong học thuyết của Khổng Tử được đề cập ở rất nhiều tác phẩm, nhưng ở đây chúng ta chỉ đề cập tới nội dung của khái niệm này trong Luận ngữ (là tác phẩm ghi lại lời bàn luận giữa Khổng Tử và các học trò của ông).

“Nhân” trong Luận ngữ của Khổng Tử

“Nhân” trong Luận ngữ của Khổng Tử là một trong những khái niệm nhận được nhiều ý kiến đánh giá khác nhau nhất.

Nho giáo được ra đời cách đây 2.500, vào thế kỷ VI trước Công nguyên do Khổng Tử (551-479) sáng lập.
Sự hình thành và phát triền với nội dung sâu sắc, tính chất và vai trò lich sử của Nho giáo luôn là đề tài hấp dẫn đối với giới nghiên cứu lý luận. Qua mỗi bước tiến mới của xã hội thì Nho giáo không ngừng được đề cập, xem xét và đánh giá lại một cách đầy đủ và đúng đắn hơn. Do đó, qua kiểm chứng của thời gian thì giá trị về mặt lý luận và thực tiển của Nho giáo là điều mà chúng ta cần phải quan tâm.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê, tác phẩm này do nhiều người ghi và ra đời sớm nhất cũng là sau khi Khổng Tử đã mất chừng bảy hoặc tám mươi năm.

Theo nghĩa sâu rộng nhất: “Nhân” là một nguyên tắc đạo đức, có quan hệ chặt chẽ với các phạm trù đạo đức khác trong triết học Khổng Tử, quy định bản tính con người thông qua “Lễ”, “Nghĩa”, quy định quan hệ giữa người và người (từ trong gia tộc đến ngoài xã hội).
“Nhân” đã làm nên một hệ thống triết lý nhất quán, chặt chẽ. Do vậy, đã có người cho rằng, nếu coi các phạm trù đạo đức trong triết học Khổng Tử như những vòng tròn đồng tâm, thì “Nhân” là tâm điểm, bởi nó đã chỉ ra cái bản chất tốt đẹp nhất trong bản tính con người.
“Nhân” cũng có thể hiểu là “trung thứ”, tức là đạo đối với người, nhưng cũng là đạo đối với mình nữa.

Theo sự giải thích trong thiên “Nhan Uyên”, thì “Nhân” có tính chất bao quát hơn cả.
Trong quan niệm của Khổng Tử: “Nhân” là “yêu người” (Luận ngữ – Nhan Uyên, 21), nhưng đồng thời người nhân cũng còn phải biết “ghét người”.
Khổng Tử nói: “Duy có bậc nhân mới thương người và ghét người một cách chính đáng mà thôi” (Luận ngữ – Lý nhân, 3). Như vậy chỉ người có “đức nhân” mới biết “yêu người” và “ghét người”.

Thực ra, khái niệm “Nhân” (người) mà Khổng Tử dùng ở đây là để đối lại với “cầm thú”. Do đó, đi liền với “Nhân” là các khái niệm: “thiện nhân”, “đại nhân”, “thành nhân”, “nhân nhân”, “thánh nhân”, “tiểu nhân”…Các khái niệm này nhằm chỉ những con người có tính cách khác nhau, trình độ đạo đức khác nhau.
“Thánh nhân” là người có đạo đức cao siêu, “tiểu nhân” là người có tính cách thấp hèn.
“Nhân” ở đây là chỉ con người nói chung và “ái nhân” là yêu người (yêu bất cứ người nào, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội của họ).

Coi “Nhân” là “yêu người” nên trong Luận ngữ, Khổng Tử đã dành không ít lời để nói về đạo làm người.
– Sửa mình theo lễ là nhân. Ngày nào cũng khắc kỷ phục lễ, sẽ khiến mọi người trong thiên hạ tự nhiên cảm hoá mà theo về đức nhân. Vậy nhân là do mình, chớ không phải do người (Luận ngữ, Nhan Uyên, 1).
– Những cái gì mà mình không muốn, thì đừng đem thi hành cho người khác – đó là đức hạnh của “người nhân” (Luận ngữ, Nhan Uyên, 2).
– Khi ở nhà thì giữ diện mạo cho khiêm cung, khi làm việc thì thi hành một cách kính cẩn, khi giao thiệp với người thì giữ đức trung thành, như vậy là người có “đức nhân” (Luận ngữ, Tử Lộ, 19).

Người nhân trong quan niệm của Khổng Tử còn là người phải làm cho năm điều đức hạnh được phổ cập trong thiên hạ: đó là: cung, khoan, tín, mẫn, huệ.
Ông nói: “Nếu mình nghiêm trang cung kính thì chẳng ai dám khinh mình. Nếu mình có lòng rộng lượng thì thu phục được lòng người. Nếu mình có đức tín thật thì người ta tin cậy mình. Nếu mình cần mẫn, siêng năng thì làm được công việc hữu ích. Nếu mình thi ân, bố đức, gia huệ thì mình sai khiến được người” (Luận ngữ, Dương Hoá, 6).
Không chỉ thế, người nhân, theo Khổng Tử, còn là người mà “trước hết phải làm điều khéo, rồi sau mới đến thu hoạch kết quả” (Luận ngữ, Ung dã, 20), và “người cứng cỏi, can đảm, kiên tâm, quyết chí, chất phác, thật thà, ít nói thì gần với nhân” (Luận ngữ, Tử Lộ, 27).
Với Khổng Tử, chỉ có người nhân mới có thể có được cuộc sống an vui lâu dài với lòng nhân của mình và dẫu có ở vào hoàn cảnh nào, cũng có thể yên ổn, thanh thản. Do vậy, theo ông, người nhân “bậc quân tử không bao giờ lìa bỏ điều nhân, dẫu chỉ trong một bữa ăn. Người quân tử không bao giờ ở sai điều nhân, dẫu trong lúc vội vàng, ngay cả khi ngả nghiêng, cũng vẫn theo và giữ trọn điều nhân” (Luận ngữ, Lý nhân, 5).

Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của Khổng Tử, “Nhân” không chỉ là “yêu người”, “thương người”, mà còn là “đức hoàn thiện” của con người.
Do vậy, “nhân” chính là đạo làm người – sống với mình và sống với người, đức nhân là cái bền vững như núi sông. Với ông, nếu thịnh đức của trời – đất là sinh thành, bắt nguồn từ đạo trung hoà, trung dung thì cái gốc của đạo lý con người là “trung thứ”, và đạo đức, luân lý con người là “Nhân” – Người có đạo nhân là bậc quân tử – Nước có đạo nhân thì bền vững, trường tồn.

Để hiểu rõ hơn về tư tưởng “Nhân” của Khổng Tử, ta cần so sánh Nho giáo với tư tưởng Kiêm ái của Mặc Tử và tư tưởng Từ bi của đạo Phật.
– Người Nhân trong quan niệm của Khổng Tử, phân biệt mình và người, coi trọng đạo đức, chú ý phần thiện trong bản tính con người. Còn tư tưởng Kiêm ái của Mặc Tử thì xem ai cũng như mình, không phân biệt thân – sơ, chỉ chú trọng đến sự cứu giúp vật chất, chú ý đến “giao tương lợi”.
– Tư tưởng “Nhân” của Khổng Tử cũng khác xa tư tưởng Từ bi của đạo Phật.
Phật thương người và thương cả vạn vật, luôn u buồn vì sự mê muị của con người, luôn tìm cách giải thoát mọi sinh linh ra khỏi vòng sinh, lão, bệnh, tử. Còn đạo Khổng tìm mọi cách giúp cho con người sống một cuộc sống vui vẻ hơn, có nghĩa lý hơn và tìm kiếm hạnh phúc ngay trên cõi trần (thực tế) chứ không phải ở trên cõi niết bàn (mơ hồ).
Chính vì vậy, ngay cả khi tư tưởng từ bi, cứu khổ, cứu nạn của Phật giáo du nhập và có chỗ đứng trong đời sống tinh thần của con người Đông Á, thì nó cũng không thể thay thế được vai trò của đạo Khổng. Có thể nói “Nhân” của Khổng Tử là tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa tiêu biểu nhất trong lịch sử các nước Đông Phương.

Ngày nay, chế độ xã hội đã khác trước, nhưng tư tưởng “Nhân” của Khổng Tử vẫn còn đầy đủ ý nghĩa.
Những người nghèo khó, đói rét, cô đơn, bất hạnh, luôn rất cần đến sự quan tâm, thông cảm, giúp đỡ của người khác và của cả cộng đồng.
Trong xã hội luôn có nhiều mối quan hệ hổ tương lẫn nhau. Nếu mỗi người đều biết quan tâm, nhường nhịn và hỗ trợ người khác thì không những cuộc sống bản thân của họ yên ấm, hạnh phúc, mà cả cộng đồng cũng gắn bó, bền vững và sẽ có nhiều điều kiện để khắc phục những chuyện thương tâm, xảy ra ngoài ý muốn.

Khi xã hội loài người đang trong quá trình toàn cầu hoá, phấn đấu để thế giới trở thành “ngôi nhà chung”, thì chúng ta càng cần phải xích lại gần nhau, tạo ra những tiền đề cơ bản để có thể xây dựng một ngôi nhà chung mang sắc thái mới, đó là: đa sắc tộc, đa tín ngưỡng, đa văn hoá và trên hết là có một tinh thần bao dung, thân ái và đoàn kết.

Có thể nói, phạm trù “Nhân” của Khổng Tử đã ra đời trong thời đại phong kiến, mang sắc thái của xã hội phong kiến, có những điều không còn phù hợp với xã hội ngày nay, nhưng việc tìm hiểu và rút ra những “hạt nhân hợp lý” của đạo Khổng, vẫn là việc mà chúng ta nên làm và cần làm.

* Tóm lại, chữ “Nhân” của Khổng Tử có nội dung hết sức phức tạp.
Có thể hiểu “Nhân” là khái niệm đạo đức chỉ phẩm chất tất yếu và cần có của người quân tử. Phẩm chất đó được nhìn nhận từ hai mặt: đối với mình và đối với người.
– Đối với mình phải trong sạch, không nghĩ và không làm điều xấu, điều ác, phải giữ đúng lễ và vươn lên không ngừng. Theo cách nói của các nhà nho là phải “Tu thân” theo các tiêu chuẩn nhân nghĩa lễ trí tín để có thể “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.
– Đối với người, phải thương yêu người “Phàn trù vấn nhân” (“ái nhân” – Nhan Uyên), phải giúp người thành đạt như chính mình “Phù nhân giảm kỷ dục lập nhi lập thân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” (Ung dã), phải tránh cho người khác những điều chính mình cũng không muốn “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (Nhan Uyên).
Mình muốn thì cũng giúp người khác thông đạt, đó là “trung” – Mình không muốn thì cũng tránh cho người khác, đó là “thứ” – “Trung thứ” chính là “Nhân” vậy.

– Chủ nghĩa “nhân đạo” của Phương Tây nghiêng về quyền lợi con người.
– Chữ “Nhân” Phương Đông nghiêng về trách nhiệm con người.
Nói đến chữ “Nhân”, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh đến sự an phận mà không oán trách (đối với người dân) “Tại bang vô oán, tại gia vô oán” (Nhan Uyên). Phải chống lại sự hiếu thắng, khoe khoang, oán giận, ham muốn “khắc phạt, oán, dục, bất hành yên, khả dĩ vi nhân hỹ” (Hiến vấn).

– Người quân tử học đạo thì biết thương người, kẻ tiểu nhân học đạo thì dễ sai khiến: “Quân tử học đạo tất ái nhân, tiểu nhân học đạo tất dị sử” (Dương Hóa).
– Dân có thể làm cho họ theo con đường của ta, không thể làm cho họ biết đó là gì: “Dân khả sử do chi, bất khả sử tri chi” (Thái Bá).

Như vậy: : Nhân chính là “đạo đức – đạo làm người”, là “phẩm chất tất yếu cần có của người quân tử”, là “nhân phẩm cơ bản” để có thể thực hành Nghĩa – Lễ – Trí – Tín

* Tham khảo
http://diendankienthuc.net/diendan/showthread.php?p=21848

– “Tri chi vi chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã” (biết điều gì thì nói là biết, không biết thì nói không biết, ấy mới là biết)

Tú_Yên(05-01-2010)

Advertisements

About Tú_Yên

Gió đi bỏ lại mình ta Ngày qua, rồi lại ngày qua - qua ngày.
Bài này đã được đăng trong Trang VĂN Tú_Yên và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s